TIM ĐẬP NHANH SAU BỮA ĂN TỐI
Một phụ nữ 76 tuổi
bị viêm thấp khớp (rheumatoid
arthritis), bệnh tiểu đường (diabetes mellitus), và tăng huyết áp, xuất hiện với tiền sử
1 tháng bị các đợt tim đập nhanh và chỉ xảy ra sau khi bà ăn tối. Cảm giác này
xuất hiện ở giữa ngực và kéo dài khoảng 10 – 15 phút sau bữa ăn.
Điện tâm đồ của
bệnh nhân không có gì đáng lưu ý. Hình chụp X-quang ngực (Hình A) cho thấy bóng
trung thất (các đầu mũi tên trắng) nằm ngang với mép tim trái (các đầu mũi tên
đen). Hình chụp CT ngực cho thấy tình trạng thoát vị cơ hoành bên trái (Hình
B), với dạ dày nằm trong khoang ngực (Hình C, nhìn ở mặt trước), nằm cạnh tâm
thất trái (Hình D, nhìn từ dưới lên, các đầu mũi
tên).
Dạ dày bị xoắn lại
một cách rõ rệt, một phát hiện phù hợp với chứng xoắn dạ
dày (gastric volvulus: dạ dày quay vòng bất thường
trên 180o, tạo nên sự tắc nghẽn mà có thể dẫn đến tình trạng nghẽn
[do thoát vị] và bóp nghẹt). Nội soi dạ dày cho thấy bị tình trạng xoắn, với
niêm mạc bị xoắn lại. Sau khi phẫu thuật hiệu chỉnh tình trạng thoát vị và
xoắn, thì tình trạng tim đập nhanh đã biến mất, và trong kỳ kiểm tra theo dõi 1
năm sau phẫu thuật, bệnh nhân không còn xuất hiện các triệu chứng
nữa.
Bác sĩ, Tiến sĩ Kazutaka Kurokohchi
Bệnh Viện Uchinomi, Shodoshima, Nhật Bản
Bệnh Viện Uchinomi, Shodoshima, Nhật Bản
Bác sĩ Osamu Imataki
Đại Học Kagawa, Kita, Nhật Bản
Đại Học Kagawa, Kita, Nhật Bản
THỰC
QUẢN CÓ HÌNH ĐỒ MỞ NÚT CHAI
Một người đàn ông
74 tuổi xuất hiện với tiền sử 30 năm bị chứng nuốt
khó (dysphagia) và nôn
ngược thức ăn lên miệng (regurgitation) từng
cơn, mà ban đầu bác sĩ của bệnh nhân này gọi là “phản ứng kích động – hysterical
reaction”. Bệnh nhân này báo cáo có các triệu chứng no sau
xương ức (retrosternal fullness) dẫn đến tình
trạng nôn ngược thức ăn lên miệng cứ mỗi 2 đến 3 tháng; ông không bị đau ngực (chest pain), xuống
cân, hoặc thay đổi về tần suất của triệu chứng trong khoảng thời gian 30 năm
này.
Một loại thuốc ức chế bơm proton (proton-pump
inhibitor) đã được chỉ định 3 năm trước khi các triệu chứng xuất hiện mà
vẫn không giúp thuyên giảm. Bệnh nhân này đã được giới thiệu đi kiểm tra đánh
giá. Kết quả chụp X-quang nuốt bari (barium-swallow examination) cho thấy 2 túi thừa (diverticulum) gần gốc
hình thể mở nút chai (được đánh dấu) của đoạn thực quản xa (Hình A). Khoảng
không bên trong (lumen) thực quản được xác định bằng nội soi, nhưng ống nội soi
không thể tiến xa hơn, có lẽ do tình trạng uốn khúc thực
quản (esophageal tortuosity) (Hình B). Phương
pháp đo áp suất khí và hơi (manometry) đã được đề xuất để đánh giá tình trạng co thắt
thực quản lan tỏa, nhưng đã không thể thực hiện.
Các triệu chứng của
bệnh nhân này vẫn không thay đổi, với chứng khó nuốt xảy ra không thường xuyên.
Bệnh nhân không xuất hiện các triệu chứng giữa các đợt phát, và đã từ chối sử
dụng các phương pháp trị liệu khác, chẳng hạn như các loại thuốc giúp thư giãn cơ trơn (smooth-muscle relaxant).
Bác sĩ y khoa Chin Yit
Soo
University of Edinburgh, Edinburgh, United
Kingdom
Bác sĩ y khoa Jonathan Fletcher
LẠC VỊ THẤU KÍNH MẮT TRONG HỘI CHỨNG MARFAN
Một phụ nữ 27 tuổi
với chẩn đoán bị hội chứng Marfan(Marfan’s syndrome: một rối loạn mang tính di truyền, thường ảnh hưởng
đến các xương dài trong cơ thể: cao, ốm; cánh tay, chân, ngón chân, ngón tay dài
hơn bình thường, bị vẹo xương sống, răng nhiều, bàn chân bị bẹt [flat
feet]) xuất
hiện với tình trạng thị giác trở xấu và bị chói
(glare: chóa) ở hai mắt trong 1 tháng qua. Khi kiểm
tra, thị lực (visual
acuity) là 20/30 ở mỗi bên mắt. Hiện tượng thấu kính bị lạc vị bán phần trên hố thái dương (superotemporal partial subluxation) được lưu ý ở mỗi bên
mắt. Khi kiểm tra gần (close inspection) mắt phải, thì số lượng tổng cộng các
dây chằng treo thấu kính mắt (zonule) được quan sát bị sụt giảm khi các khoảng không giữa
các dây chằng này bị nới rộng (các mũi tên). Áp suất trong mắt có số đo bình
thường.
Lạc
vị thấu kính mắt (ectopia lentis) là một
phát hiện ở mắt trong trường hợp của hội chứng Marfan và thường phát triển trong
khoảng từ lúc sinh ra cho đến năm 30 tuổi. Tình trạng lạc vị thấu kính mắt
thường xảy ra ở hai bên, có tính đối xứng, và theo hướng trên hố thái dương, mặc
dù tình trạng này có thể xảy ra ở các hướng khác. Các sợi chằng treo thấu kính
mắt có số lượng nhỏ, thường bị mỏng dần và bị đứt.
Phương pháp phẫu thuật can thiệp (surgical
intervention) có thể cần đến nếu tật khúc xạ
(refractive error) không thể quản lý bằng phương pháp
truyền thống hoặc nếu bệnh tăng nhãn áp (glaucoma) phát triển một cách mất kiểm soát. Bệnh nhân này
đã được điều trị bằng phương pháp truyền thống, và thị lực đã được cải thiện
bằng kính đeo mắt do bác sĩ chỉ định (prescription eyeglasses). Tình trạng của
bệnh nhân đã giữ được ổn định trong 2 năm theo dõi.
Bác sĩ y khoa David R. Lally
Trợ lý nghiên cứu lâm sàng (Clinical Research Associate – CRA) Julia Monsonego
Wills Eye Hospital, Philadelphia, PA
Trợ lý nghiên cứu lâm sàng (Clinical Research Associate – CRA) Julia Monsonego
Wills Eye Hospital, Philadelphia, PA
Một người phụ nữ 34
tuổi xuất hiện với tiền sử 3 tháng bị các mảng loét ở vòm
miệng (palate: ngạc) và nướu răng (gingiva). Kiểm tra
tổng quát cho thấy 2 chỗ bị loét với các mép có hình thể không bình thường ở vòm
miệng cứng (Hình A) và niêm mạc nướu răng (Hình B). Xương vòm miệng và cung xương hàm trên chứa các ổ răng (maxillary alveolar process) bị bong tróc ổ (focally
denuded) lớp niêm mạc bao bọc. Chụp CT (sử dụng chất phản quang) các xoang cạnh mũi (paranasal
sinus), mũi, và ổ mắt không thấy sự hiện diện của khối u hoặc tình trạng
sưng hạch bạch huyết (lymphadenopathy). Nội soi
mũi(nasal endoscopy) có kết quả bình thường.
Mẫu sinh thiết vòm miệng có kết quả dương tính với khuẩn cầu gram-dương
Staphylococcus aureus. Các kết quả mô bệnh học (histopathological
finding) cho thấy âm tính với bệnh ung thư.
Bệnh nhân này đã
bắt đầu tiếp nhận trị liệu kháng sinh qua tĩnh mạch và có biểu hiện khả quan cho
đến ngày thứ 10, khi cô bị sốt và sưng mặt bên trái từng đợt. Hai tuần sau, vết
thương ở vòm miệng trở nên lớn hơn (Hình C), và đã được tiến hành sinh thiết lần
hai. Kiểm tra mô bệnh học cho thấy u lym phô tế bào T ngoại
hạch (extranodal natural-killer-cell–T-cell
lymphoma), loại ở mũi. Đây là một dạng u lym phô non-Hodgkin ngoại hạch
bên trong đường tiêu hóa hô hấp trên (upper aerodigestive tract), thường bao gồm khoang mũi (nasal cavity), mũi hầu(nasapharynx), và các
xoang cạnh mũi.
Bệnh nhân này đã
tiếp nhận trị liệu phóng xạ và trị liệu hóa học SMILE bổ sung (bao gồm
asparaginase, methotrexate, ifosfamide, etoposide, và dexamethasone) và đã được
tiến hành ghép tủy xương tự thân (autologous bone marrow transplantation: người nhận cũng là
người cho). Vào tháng thứ 8, bệnh nhân ở trong giai đoạn bệnh được thuyên giảm,
không có chứng cứ u lym phô tái phát.
David Jiménez Gallo, M.D.
Mario Linares Barrios, Ph.D.
Hospital Universitario Puerta del Mar, Cadiz, Spain
Mario Linares Barrios, Ph.D.
Hospital Universitario Puerta del Mar, Cadiz, Spain
NHIỄM VIRUT HERPES SIMPLEX Ở NGÓN TAY
Một cô gái 18 tuổi,
trước đây khỏe mạnh, xuất hiện với tiền sử bị sốt, khó ở, và đau ngón giữa ở tay
trái trong 2 tuần. Kết quả kiểm tra tổng quát cho thấy một khu vực bao gồm các
túi ban đỏ giao nhau (erythematous confluent vescicle) ở đốt giữa của ngón này và
sưng hạch ở nách (axillary
lymphadenopathy).
Bệnh nhân này đã
được tiến hành chẩn đoán lâm sàng nhiễm trùng ngoài da (erysipelas: chứng viêm
quầng) và đã được tiến hành trị liệu kháng sinh uống bằng miệng. Một tuần sau
đó cô gái này đã quay trở lại với các triệu chứng kéo dài. Cô báo cáo không có
tiền sử bị các triệu chứng ở miệng hoặc bộ phận sinh dục. Xét nghiệm kháng thể huỳnh quang trực tiếp (direct fluorescence antibody testing) dịch trong các túi
này đã được tiến hành và đã chứng thực bệnh nhân bị nhiễm virut herpes simplex loại 2 (herpes
simplex virus type 2 – HSV-2).
Các triệu chứng ban
đầu, như sốt và khó ở, những dấu hiệu xác nhận bị nhiễm HSV-2 nguyên phát, cho
thấy rằng tình trạng nhiễm trùng này mới bị mắc phải. Bệnh nhân này đã được
chẩn đoán bị nhiễm virut herpes simplex ở ngón tay
(herpetic whitlow) và đã được điều trị bằng thuốc
acyclovir uống bằng miệng trong 7 ngày. Một tuần sau, bệnh nhân đã quay trở lại
để kiểm tra, và các triệu chứng đã được cải thiện. Sau 2 năm theo dõi, bệnh
nhân báo cáo đã có vài lần tái phát ở ngón tay, và đã cần đến điều trị bằng
thuốc kháng virut.
Sara Izzo
University of Rome, Sapienza, Rome, Italy
Bác sĩ giải phẫu Muneer Ahmed
King's College London, London, United
Kingdom
VIÊM
THẬN-BỂ THẬN TẮC NGHẼN MÃN TÍNH
Một người phụ nữ 65
tuổi xuất hiện tại bệnh viện với tiền sử 4 tháng bị sốt cấp độ thấp từng đợt,
suy nhược, chán ăn, và xuống cân. Bệnh nhân này chỉ có tiền sử bị viêm dạ dày xơ hóa (atrophic
gastritis) được điều trị bằng vitamin B12 tiêm qua
cơ.
Kiểm tra tổng quát
cho thấy một cục u mềm lớn lồi ra từ cạnh sườn phải (Hình A, nhìn từ phía sau).
Các xét nghiệm máu cho thấy số lượng bạch cầu là 17900/mL3 (90% bạch
cầu trung tính), mức hemoglobin là 9,8 g/dL, và mức protein C-reactive là 274
mg/L, và tốc độ lắng hồng cầu (erythrocyte sedimentation rate) là 104
mm/giờ.
Mẫu cấy máu có kết
quả âm tính. Chụp CT bụng sử dụng chất phản quang cho thấy một viên sỏi lớn gây
tắc nghẽn ở đài thận phải trên (upper-pole calyx of the right kidney), gây teo ổ
(focal atrophy) và bào mỏng vỏ thận trên (Hình B, mũi tên); còn có một khu vực
tụ mủ lớn sau màng bụng (Hình C, các mũi tên trắng) kéo dài đến ngực (Hình C,
mũi tên đỏ) và các mô dưới da ở cạnh sườn phải (Hình C, mũi tên
xanh).
Mẫu thử nước tiểu
và mẫu thử dịch từ chỗ tụ mủ có kết quả dương tính với vi khuẩn Proteus
mirabilis. Thủ thuật cắt bỏ thận phải đã được tiến hành. Kiểm tra cấu trúc mô
tiết lộ khu vực tụ mủ bị viêm mãn tính và không có những thay đổi về u hạt vàng
(xanthogranulomatous change). Mười tám tháng sau khi phẫu thuật, sức khỏe của
bệnh nhân này đã được cải thiện.
Bác sĩ y khoa Sergio Prieto-González,
Hospital Clínic, Barcelona, Spain
Hospital Clínic, Barcelona, Spain
Bác sĩ, Tiến sĩ y khoa Montserrat
Alemany
Hospital Plató, Barcelona, Spain
Hospital Plató, Barcelona, Spain

Đăng nhận xét